Vai trò của Vitamin K2 dạng MK7

  20/11/2017

Vitamin K2 là gì? Vitamin K2 có ở đâu?

vitamin K2 dạng MK7

Vitamin K là một vitamin tan trong dầu, gồm 3 loại chính:

- K1 hay phylloquinone.

- K2 - Menaquinone gồm 2 thành phần: MK4 (Menaquinone-4) và MK7 (Menaquinone- 7).

- K3: Có nguồn gốc tổng hợp, bị cấm dùng trong lâm sàng vì hủy hoại màng tế bào, gây oxy hóa, độc với gan, vàng da, thiếu máu tan máu.

Vitamin K1

Có nhiều trong các loại rau xanh (cải, bông cải,…), dầu thực vật (dầu đậu nành), trái cây (bơ, kiwi, nho,…). Tuy nhiên, chỉ 5-10% lượng vitamin K1 được hấp thu ở đường tiêu hoá từ nguồn thực phẩm.
Vitamin K1 giữa vai trò hoạt hoá yếu tố đông máu ở gan.

Vitamin K2

Thành phần: MK4 (Menaquinone - 4) và MK7 (Menaquinone -7).

  • MK4 được tồng hợp từ vitamin K1, tuy nhiên thời gian bán hủy của MK4 ngắn nên mỗi ngày phải dùng nhiều lần và không duy trì được tác dụng lâu dài.
  • MK7 có chu kỳ bán hủy dài trong cơ thể, thậm chí tới 72 giờ sau khi uống. 
    • Được sản xuất từ đậu nành lên men bằng vi khuẩn Bacillus subtilis theo phương pháp truyền thống "Natto" của Nhật Bản sau đó được chiết xuất và tính chế bằng hệ thống công nghệ tiên tiến giúp loại bỏ các tạp chất và thu được MK7 chất lượng cao nhất.
    • Natto là nguồn tự nhiên giàu MK7 nhất.  

Vai trò của Vitamin K2 dạng MK7

Vitamin K2 có vai trò hoạt hoá protein MGP, giúp MGP chuyển từ dạng bất hoạt (ucMGP) sang dạng hoạt động (cMGP). Ở trạng thái hoạt động (cMGP), protein này gắn với ion Ca trong máu, ngăn không cho chúng lắng đọng xuống thành mạch. Ngoài ra, K2 còn kích hoạt protein osteocalcin, giúp gắn ion canxi vào khung xương hình thành mật độ xương ngăn ngừa loãng xương.

Kanellakis S và cộng sự (năm, 2012) đã công bố kết quả nghiên cứu hiệu quả của sự kết hợp canxi, vitamin D3 và vitamin K2 trong việc tăng mật độ khoáng trong xương ở 173 phụ nữ mãn kinh. Sau 12 tháng thử nghiệm, kết quả xử lý thống kê cho thấy mật độ khoáng trong xương cột sống của nhóm bổ sung 800 mg canxi, 10 mcg vitamin D3 và 100 mcg vitamin K2 tăng đáng kể so với nhóm đối chứng và cao hơn so với nhóm chỉ bổ sung canxi và vitamin D3.

Điều này có nghĩa là:

Vitamin K2: được xem như một nhân tố không thể thiếu trong việc bổ sung canxi phát triển chiều cao của trẻ đặc biệt trong độ tuổi tiền dậy thì và dậy thì do tốc độ phát triển và hình thành mật độ cũng như chiều dài của xương giai đoạn này cực kỳ cao. Nếu bổ sung Canxi và Vitamin D3 mà quên Vitamin K2 thì đúng là một sai lầm trầm trọng. Không có vitamin K2 dẫn đường, ion canxi không thể hướng đích về xương mà “lạc chỗ” đến các mô mềm, mạch vành, thận,..lắng đọng gây vôi hóa, xơ vữa, cặn thận.

Từ năm 1995, Bộ Y Tế Nhật Bản đã khuyến cáo dùng MK7 để bảo vệ xương, ngăn ngừa các bệnh tim mạch. Bạn cũng có thể nhận thấy rõ ràng rằng, trong nhiều năm gần đây, Nhật Bản đã từ một dân tộc có chiều cao “thấp bé” vươn lên nhóm nước có chiều cao hàng đầu thế giới.

3 yếu tố trọng yếu hỗ trợ xương phát triển đúng nhịp độ về kích thước và mật độ xương.

Canxi và tốt nhất là canxi hữu cơ, có cấu trúc tương thích với cấu trúc sinh học của cơ thể sẽ giúp cho việc hấp thu được tốt hơn.

Canxi cùng phosphor là 2 nhân tố quan trọng nhất cấu tạo nên hệ xương, bao gồm cung cấp cấu trúc và độ cứng cho xương và răng. Tiêu thụ lượng canxi cao giúp tăng cường xương, nhưng đồng thời, có thể làm tăng nguy cơ bệnh tim và thận do có một lượng canxi không hấp thu vào hệ xương mà sẽ lắng đọng ở thành mạch máu và bể thận. 

Như vậy, việc bổ sung canxi là cần thiết và mặc dù y học đã chỉ ra được việc đồng hành của canxi, vitamin D3 và vitamin K2 để tăng hấp thu, vận chuyển đủ lượng canxi đến xương, cân bằng canxi trong cơ thể thì việc sử dụng canxi hữu cơ có nguồn gốc từ thiên nhiên cũng đưa lại lợi ích cho sức khỏe hơn rất nhiều so với các loại canxi vô cơ.

Vitamin D3: Đóng vai trò là chất giúp tăng hấp thu canxi (tạo ra các nguyên bào osteocalcin) ở ruột, tăng tái hấp thu canxi ở thận và tăng canxi hóa sụn giúp xương phát triển dài ra.

Cụ thể, xương được cấu trúc bởi một vỏ ngoài cứng, bên trong là mô tạo nên một khối xốp là những thực thể sống. Hệ xương không phải là một cấu trúc tĩnh, trên thực tế nó được xây dựng và thay đổi liên tục dẫn đến trung bình cứ 7-10 năm toàn bộ cấu trúc xương sẽ thay đổi một lần. Trong thời gian chuyển đổi, hệ xương có thể thay đổi về kích thước và hình dạng. Hệ xương có thể dài ra về kích thước, dày đặc hơn về mật độ, nhiều hơn về khối lượng cũng như bù đắp vào những chỗ mà xương bị tổn thương. Sự chuyển đổi này được quy định bởi 2 yếu tố: các nguyên bào xương (yếu tố xây dựng nên bộ xương) và các hủy cốt bào (yếu tố làm xốp và loãng xương). Cùng với hoạt động hình thành và phát triển xương nhiều hơn hoạt động phân hủy xương, quá trình duy trì một cấu trúc xương khỏe mạnh sẽ diễn ra liên tục.

Các nguyên bào xương sản xuất ra osteocalcin, nhân tố giúp lấy canxi từ máu và gắn nó vào xương. Một phần khác, osteocalcin tác động lên sự khoáng hóa xương nhờ khả năng liên kết các thành phần khoáng chất và hydroxyapatite của xương, từ đó giúp hệ xương khỏe hơn, giảm nguy cơ gãy xương, giúp tối ưu hóa chiều cao ở trẻ em và vẫn đảm bảo sức khỏe của xương.

Nhưng điều quan trọng là nguyên bào xương khi mới được sinh ra không thể tự nó hoạt động, mà nó cần vitamin K2 để kích hoạt và liên kết canxi.

Vitamin K2 chính là yếu tố quan trọng cuối cùng để phát triển đúng nhịp độ về kích thước và mật độ xương từ đó giúp trẻ độ tuổi tiền dậy thì và dậy thì đạt được chiều cao tối ưu nhất.

Bình luận

Tin tức mới Xem tất cả

Video hỏi đáp các bác sĩ chuyên khoa về bệnh dạ dày


Theo dõi Gphar trên fanpage